TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT CỦA SỞ VĂN HÓA THÔNG TIN NAM ĐỊNH NĂM 1998 HÉ LỘ NHIỀU THÔNG TIN GIÁ TRỊ VỀ KHU DI TÍCH PHỦ DÀY
TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT CỦA SỞ VĂN HÓA THÔNG TIN NAM ĐỊNH NĂM 1998 HÉ LỘ NHIỀU THÔNG TIN GIÁ TRỊ VỀ KHU DI TÍCH PHỦ DÀY
Tài liệu của Bảo tàng Nam Định thuộc Sở VHTT Nam Định có tên LÝ LỊCH DI TÍCH PHỦ DÀY vốn là lý lịch bổ sung Hồ sơ khu di tích Phủ Dầy của Sở Văn hóa thông tin tỉnh Hà Nam đã lập trước đó.
Hồ sơ lý lịch di tích này đã được nguyên Giám đốc bảo tàng Nam Định, Trần Đăng Ngọc ký duyệt nội dung ngày 5/4/1998.
HỒ SƠ DI TÍCH ĐÃ THÔNG TIN CHO BIẾT NGUYÊN NHÂN TRANH CHẤP "PHỦ CHÍNH" & "NƠI GIÁNG SINH" VÀ NHỮNG AI ĐÃ TẠO NÊN SỰ MÂU THUẪN NÀY.
Trích nguyên văn lý lịch di tích:
"......Theo các cụ già địa phương kể lại thì cách đây trên một trăm năm, tại hai thôn mỗi nơi chỉ có một ngôi phủ nhỏ. Hàng năm tại đây cũng mở hội vài ba ngày nhưng người đến lễ không đông lắm.
Theo bia " Trùng tu Vân Cát từ" đặt tại phủ Vân Cát do Cao Xuân Dục soạn năm 1901 thì ngôi phủ này trước là một ngôi cổ miếu rất nhỏ làm vào đời Lê Cảnh Trị (1663-1671). Đến đời Cảnh Thịnh (1793-1800) cử nhân Trần Gia Du mở rộng ra. Đến năm Tự Đức kỷ mão (1879) ngôi phủ này được lợp lại mái. Đời Thành Thái di tích bị đổ nát phải làm lại, mãi tháng 8 năm Thành Thái thứ 12 (1900) thì mới hoàn thành, trong đó có làm thêm hai cung đệ tam và đệ tứ. Còn ngũ vân lâu năm Tự Đức thứ 12 (1859) có ông Nguyễn Văn Vực người làng Lương Kiệt bỏ tiền và cúng ruộng vào để tu sửa.
Mãi sau này được sự khuyến khích của triều đình Huế và sự chỉ đạo trực tiếp của tổng đốc Nam Định cùng tri huyện Vụ Bản thì phủ Giày mới được xây dựng lại to lớn hơn hẳn trước và mở hội dài ngày với các hình thức tổ chức sinh hoạt rầm rộ, lôi cuốn người khắp nơi về trẩy hội.
Phủ Vân Cát được viên tổng đốc tỉnh Nam Định là Cao Xuân Dục đứng ra tổ chức xây dựng. Từ một cái đền nhỏ, người ta đã nâng lên thành một ngôi phủ bề thế, to lớn. Phủ Vân Cát gọi tắt là phủ Vân là nơi lễ chính ở phủ Giày. Sau khi đã được xây dựng lại đã thu hút rất đông khách thập phương đến lễ.
Phủ Tiên Hương được xây dựng sau nhưng với quy mô còn lớn hơn và cao đẹp hơn phủ Vân. Phủ này do viên tổng đốc Nam Định là Đoàn Triển đứng ra giúp huyện Quần người thôn Tiên Hương xây dựng. Tất cả những công trình kiến trúc chính phụ, cùng với địa thế núi non cây cảnh thiên nhiên đã làm cho phủ Tiên Hương bề thế đẹp đẽ hơn phủ Vân Cát. Do đó khách thập phương về lễ ở phủ Tiên Hương ngày càng đông hơn và mặc nhiên nơi này trở thành phủ Chính, thay thế vị trí của phủ Vân trước đây.
Theo các cụ giả địa phương thì phủ Chính là nơi chính thức thờ bà chúa Liễu Hạnh. BAN ĐẦU PHỦ CHÍNH LÀ PHỦ VÂN vì bà chúa Liễu sinh ở thôn Vân Cát. Vì thế khách thập phương về lễ ở phủ Vân xong mới sang phủ Tiên Hương và các đền miếu khác. Vì vậy viên tri huyện Vụ Bản là Trần Lê Quần quê ở Tiên Hương đã quyết giành cái tên phủ Chính về cho Tiên Hương. Đây không phải là cuộc tranh nhau cái tên phủ Chính mà thực chất là cuộc tranh dành quyền lợi về KINH TẾ.
Theo quan niệm của những người đi lễ thì đến phủ Giày thì phải đến lễ ở phủ Chính nơi mẫu ngự. Phủ Chính ở đâu thì người đi lễ phải về nghỉ trọ nơi đó. Do vậy tiền tiến cúng rồi các khoản tiền thuê nhà trọ, tiền cơm ... mỗi kỳ hội nhân dân ở khu vực phủ Chính thu về không phải là ít. Người ta coi đây là một vụ mùa bội thu hơn cả vụ sản xuất chính.
Huyện Quần nêu ra vấn đề :" Bà chúa Liễu dù sinh ra ở Vân Cát nhưng đã lấy chồng ở Tiên Hương thì phải theo chồng. Sống ở nhà chồng thì chết cũng ở nhà chồng". Nơi bà chúa Liễu sống và chết chính là ở trên đất nhà huyện Quần.
Vì vậy phải xây lại phủ mới ngay trên nền nhà cũ của bà... Huyện Quần đã dành hẳn một khu đất của gia đình cho việc xây lại ngôi phủ mới. Để gây thanh thế tuyên truyền cho việc này, năm 1914 huyện Quần đã cây cục nhờ viên tổng đốc Nam Định là Đoàn Triển đứng ra hô hào và tổ chức việc xây dựng. Phủ Tiên Hương được làm sau nhưng to cao và rất đẹp nên được mang tên là phủ Chính từ đó.
Bà chúa Liễu sống ở Tiên Hương và mất cũng ở Tiên Hương, vậy mộ của bà ở đâu ? Đó là câu hỏi do mụ đồng Thực và cửu Phức (Tức Trần Lê Phức) con giai cả huyện Quần nêu ra.
Năm 1937 qua miệng đồng Thực, người trảy hội phủ Giày được biết một tin đặc biệt : Vua Bảo Đại lấy vợ lâu không có con. Bà hoàng hậu theo đạo thiên chúa đến khẩn ở đền Sông Thanh Hóa đã được thánh mẫu ban cho hoàng tử Bảo Long. Để trả ơn mẫu, nhà vua và Nam Phương hoàng hậu sẽ cho xây lăng của thánh mẫu tại làng Tiên Hương. THÁNH MẪU ĐÃ BÁO MỘNG CHO ĐỒNG THỰC biết là mộ của mẫu ở trong cái miếu của làng..."
Hết trích.
Phần tiếp tài liệu nói về những chứng cớ mà hai bên cùng đưa ra để nhận Phủ Chính và Nơi Sinh nhưng đều là ngụy tạo. Sách đồng Vân Cát và các sách vở nêu Phủ Chính là Phủ Tiên Hương được in ấn trong thời kỳ tranh chấp này. (Ví dụ sách Hội Phủ Dày của Phạm Quang Phúc năm 1942)
Cuối cùng báo báo kết luận và thời điểm cuộc chiến tạm chấm dứt:
"Cách mạng tháng 8 năm 1945 đã chấm dứt cuộc chạy đua hao tiền tốn sức này của bọn thống trị giữa hai làng, kéo theo sự mất đoàn kết trong bao năm tháng".
LỜI BÌNH:
Báo cáo khá khách quan không thiên vị bên phủ nào, chỉ nêu ra những vấn đề mê tín được khoác áo tín ngưỡng để đạt mục đích kinh tế. Cuộc chiến kinh tế là cuộc chiến lâu dài và không hồi kết nếu không có sự can thiệp của các các cơ quan quản lý
Theo báo cáo này, ban đầu nơi sinh được hiểu là Vân Cát và trật tự này chỉ thay đổi khi Huyện Quần ( quan Trần Bình Hành?) đặt ra vấn đề và chuyển thông tin về Tiên Hương dựa vào các quan lại như Đoàn Triển và thanh đồng có tiếng đương thời để tạo thanh thế.
Bản thân huyện Quần cũng nêu ra ":" Bà chúa Liễu dù sinh ra ở Vân Cát nhưng đã lấy chồng ở Tiên Hương thì phải theo chồng. Sống ở nhà chồng thì chết cũng ở nhà chồng". tức là cũng chỉ nhận Tiên Hương là quê chồng và thờ cúng nơi mất chứ không phủ nhận nơi sinh . Có lẽ vì thế đôi câu đối sau vẫn còn hiện hữu ở phủ Tiên Hương mãi đến những năm sau này.
"Tam thế luân hồi, vu Vỉ Nhuế, vu Vân Cát, vu Nga Sơn ngũ bách dư niên quang thực lục/ Lịch triều ba cổn, vi đế nữ, vi đại vương, vi chúng mẫu, ức niên van cổ điện danh bang”
Báo cáo cho biết khu lăng mộ của Mẫu được phát hiện muộn là vì khi đó Mẫu mới báo mộng cho ông Đồng Thực được biết mộ ở cái Miếu của làng.
Cũng theo báo cáo này thì hiểu rằng ông huyện Quần vô hình trung là người tạo nên tranh chấp này, tưởng chừng tranh chấp sẽ chấm dứt sau cách mạng tháng 8/1945 mà phần nào đã để lại dư âm đến tận hôm nay. Thật đau lòng!
Còn phía bên kia Vân Cát có những uẩn ức của một nơi thánh địa đã bị lấy đi cái danh phận là phủ thờ Chính và bị lấy đi cái danh tiếng là nơi "Cố Trạch" nên đã gây bất mãn trong người Vân Cát, vì thế nên cũng cố tạo những chứng cớ dựa trên những câu truyện vốn đã thành tiềm thức trong dân gian.
Tóm lại mấu chốt của vấn đề ta có thấy được là:
CÁI DANH "PHỦ CHÍNH" CHỈ LÀ TỰ PHONG - KHÔNG BÊN NÀO TỰ NHẬN LÀ PHỦ PHỤ . KHI QUYẾT ĐỊNH MỘT BÊN LÀ "PHỦ CHÍNH" SẼ CÓ NHỮNG MÂU THUẪN KHÔNG BAO GIỜ HÓA GIẢI ĐƯỢC.
Cuộc chạy đua đã gây nên "hao tiền tốn sức" gây mất đoàn kết giữa hai làng trong quá khứ là một câu chuyện lịch sử mà phải bóc tách nhiều thông tin mới thể hiểu được thấu đáo bản chất vấn đề.
Thiết tha mong rằng các cấp quản lý văn hóa các cấp lãnh đạo cũng sẽ đọc và hiểu bản chất các câu chuyện lịch sử đã qua để có ứng xử và quyết định đúng đắn. Chỉ có chính quyền và lãnh đạo thực sự hiểu bản chất lõi của vấn đề mới có thể đưa ra các quyết định đúng đắn để không phải lặp lại vấn đề tranh chấp trong quá khứ đã xảy ra một cách đau lòng.
Thấu hiểu vấn đề nhất và xử lý triệt để nhất phải là chính quyền địa phương tại khu di tích Phủ Dầy. Được biết hiện nay khu di tích lịch sử văn hóa Phủ Dầy do huyện Vụ Bản trực tiếp quản lý.
Thay lời muốn nói, xin trích dẫn lại một lời đệ tử của Mẫu thay cho lời kết : "Xưa nay vốn không có đền phủ nào là Chính là Phụ. Có chăng chỉ cần Chính tại lòng người, Chính Tâm Tu Thân"
Nam Định 2024.05.02




Nhận xét
Đăng nhận xét